X

Lịch sử hãng xe HONDA – Người biến ước mơ thành huyền thoại

Tên tuổi Honda không chỉ quen thuộc với người Việt Nam mà còn là một thương hiệu nổi tiếng trên khắp thế giới bởi đây là một hãng xe Nhật Bản có lịch sử hình thành – phát triển đầy thăng trầm và đáng nể.

Nhãn hiệu xe máy Honda gắn liền với tên tuổi và cuộc đời của một người đàn ông đầy đam mê và nhiệt huyết, ông chính là Soichiro Honda. Từ ước mơ và sự thành công của mình ông đã có những đóng góp to lớn trong việc “đưa những phương tiện di chuyển của con người lên một tầm cao mới”.

Soichiro Honda

Honda A-Type – Mẫu xe đầu tiên là sản phẩm từ một bài toán khó.

Đầu những năm 1940, hãng Honda được thành lập nhưng chưa phải là một tên tuổi lớn. Lúc này hãng chỉ đơn thuần là một công ty kinh doanh motor máy. Thử thách đầu tiên mà ông Soichiro Honda gặp phải chính là làm sao để tiêu thụ một số lượng lớn những động cơ hai thì dư thừa sau thế chiến thứ II – do chính phủ đề nghị. Đây thật sự là một bài toán khó vì loại động cơ này vào thời đó khá hiện đại và đắt tiền, sử dụng lại rất hao tốn nhiên liệu trong khi sự tàn phá của chiến tranh làm cho nguồn cung nhiên liệu cho người dân rất hạn chế. Sau nhiều đêm suy nghĩ, cuối cùng ông Soichiro Honda đã có một quyết định táo bạo. Ông đem những động cơ kia cải tiến lại để gắn vào những chiếc xe đạp, như thế giá thành sẽ hạ và dễ tiêu thụ hơn.

Bắt tay vào kế hoạch, đến tháng 10 năm 1946, xưởng sản xuất ở Hamamatsu đã hoàn thiện sản phẩm “mô tô đầu tiên” có cả pedal và bàn đạp nổ. Riêng để đối phó với tình trạng khan hiếm nhiên liệu, những chiếc xe này được ông Soichiro thiết kế lại để chạy bằng dung dịch chiết xuất từ nhựa thông (loại nhiên liệu này thời bấy giờ được sản xuất nhiều và cung cấp trong cả nước).

**Tuy nhiên, nhựa thông dẫu sao cũng không phải là một giải pháp hay cho những chiếc động cơ 2 thì, bởi nó yêu cầu người sử dụng đạp pedal liên tục để làm nóng động cơ trước khi khởi động. Mức độ tạo khói bụi thì không thể tồi hơn.

A-Type

Bài toán đầu tiên đã được giải, sau khi số động cơ thừa được tiêu thụ hết, ông Soichiro quyết định bắt đầu sản xuất những chiếc xe riêng của chính mình. Sử dụng nguyên mẫu là những chiếc động cơ 2 kì còn thừa trước đây, ông đã xây dựng một bản thiết kế mới cho một loại động cơ 50cc với vị trí lắp động cơ không thay đổi so với những chiếc xe đạp trước. Mùa đông năm 1947, chiếc A-Type được sản xuất với công suất 0,5 mã lực. Vẫn sử dụng dung dịch nhựa thông, chiếc xe hoạt động cùng với vô số khói và mùi khó chịu, có lẽ vậy mà người ta vẫn quen gọi nó với cái tên ấn tượng: The Stove – Bếp Lò.

Từ ước mơ đến hiện thực

May mắn đã mỉm cười với ông Soichiro Honda khi ông chính thức thành lập Honda Motor vào năm 1948 ở tuổi 41 dưới sự giúp đỡ về tài chính của ngài Takeo Fujisawa (người mà sau này trở thành phó chủ tịch của Honda Motor). Họ nhanh chóng xây dựng nên một kỷ nguyên xe gắn máy của riêng họ. Dự án đầu tiên chính là sản xuất một phiên bản động cơ nâng cấp của A-Type với tên gọi B-Type có dung tích xy-lanh 90cc.
Giai đoạn này cũng chính là giai đoạn kết thúc chiến tranh gần 5 năm, kinh tế Nhật đang dần phục hồi sau thời gian khó khăn nhất, điều này đã góp phần làm hãng Honda nghĩ tới việc sản xuất những chiếc xe máy hoàn chỉnh chứ không phải loại xe đạp máy như A-type (nhưng vẫn phải đảm bảo tiêu chí phù hợp với túi tiền của người dân). Vì vậy, 1 năm sau, năm 1949, Honda cho ra đời mẫu D-Type, chính Soichiro Honda tự tay quản lí tất cả các công đoạn sản xuất, gia công đến khi hoàn thiện sản phẩm. Đó cũng là chiếc xe đầu tiên do công ty Honda hoàn toàn sản xuất, một công việc hoàn thiện, có quy trình và phức tạp hơn nhiều so với việc chỉ lắp động cơ lên một thân xe đạp như trước đây. Ông Soichiro Honda đã gọi nó là “The Dream” bởi lúc này giấc mơ của ông về việc tự sản xuất một chiếc xe gắn máy hoàn thiện đã thành sự thật.

E-Type Dream

Chuẩn bị đưa ước mơ lên một tầm cao mới

Năm 1950 – 1951 Honda tiếp tục phát triển phiên bản cải tiến của D-type, đây là một động cơ có dung tích 146cc, loại OHV (Over Head Valve) 4 kì được đặt tên là E-Type Dream. Động cơ mới này hết sức mạnh mẽ vào thời đó với công suất 5,5 mã lực và có thể đạt tốc độ 50mph ( khoảng 80km/h). Chiếc xe có khung thép vững chắc và đầy đủ cả hai bộ phận giảm xóc trước và sau. Vào tháng 10 năm 1951, chiếc E-Dream đạt được sản tốc độ sản xuất 130 chiếc 1 ngày.

Bên cạnh những chiếc xe mô tô đua “đúng nghĩa” Honda vẫn không quên thị trường xe giá rẻ. Năm 1952, họ sản xuất chiếc “Cub” F-Type đầu tiên, chiếc xe với động cơ hai kì có dung tích 50cc đạt sức mạnh 0.5 mã lực. Chiếc xe bình dân này đã bán được với số lượng cực lớn, vượt cả mong đợi. Chưa đầy một năm sau, sản lượng “Cub” đã đạt tới 6500 chiếc/tháng, chiếm 70% thị phần xe hai bánh ở Nhật.

Năm 1953, Honda sản xuất chiếc xe 90cc J-Type, một sản phẩm được ứng dụng nhiều công nghệ phức tạp, được biết đến với cái tên Benly (trong tiếng Nhật nghĩa là: sự tiện nghi). Với hộp số 3 cấp, công suất 3.8 mã lực và thậm chí giảm xóc trước còn dùng dạng ống lồng, Honda đã bán được với mức 1000 xe/tháng.

Đến năm 1954, chiếc scooter 200cc Juno (xe ga Honda đầu tiên) được sản xuất để cạnh tranh với những chiếc Vespa của Piaggio – mẫu xe thời gian đó đã bắt đầu xuất hiện ở Nhật. Honda cũng cải tiến chiếc Dream và Benly để cạnh tranh với nhiều hãng khác, đặc biệt là về dung tích xy-lanh và sức mạnh động cơ.

 

Tháng 9 năm 1957, Honda ghi dấu thêm một bước ngoặc trong công nghệ sản xuất của họ bằng việc cho ra đời động cơ 2 xy-lanh đầu tiên của hãng. Động cơ này được lấp cho chiếc xe C70 Dream huyền thoại với công suất 250cc. Đầu những năm 1958, Honda bắt đầu gắn hệ thống khởi động điện cho những chiếc C70 và đặt kí hiệu là C71. Năm 1959 chiếc Benly mới nhất được tung ra với động cơ 125cc và đạt vận tốc đến 100km/h.

**Sự phát triển liên tục của Honda được đánh dấu bằng danh hiệu nhà sản xuất xe gắn máy thành công nhất tại Nhật.

Lấn sân vào thị trường xe Phân Khối Lớn – Chuyện phải làm

Sau sự khởi đầu thành công với xe gắn máy giá rẻ, Honda tiếp tục sự phát triển của họ bằng những bước tiến đầu tiên vào thị trường nước ngoài với dòng xe phân khối lớn.

Năm 1959 Honda đặt chân vào thị trường Mĩ, đây là một mảnh đất thật sự màu mỡ cho hãng Honda khi họ có những mẫu xe có doanh số bán chạy nhất. Những chiếc xe cua Honda hoàn thiện đến nỗi mà sau 25 năm, những chiếc như C50, C70 và C90s cũng chỉ cần thay thiết kế để chúng có dáng hiện đại hơn còn phần động cơ thì gần như vẫn giữ nguyên vẹn.

 

Trong cùng năm 1959, Honda giới thiệu chiếc C72 Dream 250cc tại Amsterdam. Đó là chiếc xe Nhật đầu tiên được trình diễn tại thị trường châu Âu. Chiếc xe đã làm bất ngờ khách tham quan bởi những chi tiết mới lạ: khung thép gia cường, giảm xóc kép phía trước, động cơ nhôm OHC với hệ thống khởi động điện.

Vào thời điểm đó ở Anh, người ta bị giới hạn không được lái xe có dung tích quá 250cc, vì thế những tay mê xe vẫn muốn được lái những chiếc xe nhanh nhất trong tầm dung tích được cho phép. Và C72 là một chiếc xe như thế, nó dễ dàng đạt tốc độ 80mph (130km/h) mà chỉ tiêu thụ 4lít nhiên liệu cho 100km.

Ngay từ ngày mới thành lập, Soichiro Honda đã muốn thương hiệu Honda tham gia vào những cuộc đua và họ đã có mặt tại hơn 100 giải đua xe trên khắp thế giới. Những bài học từ việc tạo ra những cỗ máy có hiệu năng cao chính là tiền đề để phát triển những cải tiến cho dòng xe thương mại sau này.

Phô trương thanh thế bằng những siêu xe tốc độ

Năm 1962, Studio Hondells đã ghi âm bản nhạc với tựa đề “Little Honda”, đây là sự đánh dấu cho việc Honda chính thức đi vào nền văn hóa âm nhạc cũng như đời sống Mĩ. Cũng thời điểm đó đứa con tốc độ C77 305cc ra đời như một món quà kỉ niệm. Đây là bản cải tiến tiếp theo, một chiếc xe thể thao thực sự với công suất tới 28,5 mã lực.

Năm 1965, với khao khát luôn muốn chinh phục những thị trường mới Honda đã chính thức bước chân vào vào thị trường xe phân khối lớn với sản phẩm đầu tiên là chiếc CB450 với 43 mã lực. Chiếc xe được gắn động cơ twin, cam đôi DOHC và hệ thống “torsion bar valve springs“ – hệ thống dây trợ lực giúp van đóng mở tốc độ nhanh. Những cải tiến đó đã giúp chiếc xe dễ dàng đạt vận tốc 167 km/h.
* Tuy nhiên, dù có những thay đổi đáng kể, lượng xe CB450 bán ra trên thị trường vẫn khá thấp.

Rút ra những kinh nghiệm nhất định sau 3 năm kinh doanh, đến năm 1968 thì Honda chính thức dừng sản xuất dòng xe CB72 và CB77 mà thay vào đó là một thế hệ xe mới: chiếc CB250 và CB350 có vận tốc lên đến 170km/h.

Riêng tại thị trường Tokyo Show năm 1968, sau nhiều tháng chuẩn bị, Honda cho ra đời một chiếc concept mà từ đó về sau, đã thay đổi hoàn toàn thế giới xe thể thao. Đó là chiếc xe với động cơ 4 xy-lanh 750cc, với sự xuất hiện lần đầu của phanh đĩa. Và dĩ nhiên đứa con mang tên CB750K đã ra đời và cũng chính là chiếc xe lớn nhất ở Nhật Bản khi ấy.

 

Tháng 4 năm 1969, Honda thỏa lòng người hâm mộ bằng việc chính thức sản xuất chiếc CB750F. Với tính năng vận hành hoàn hảo, chiếc xe đã đạt được vận tốc 192km/h và là tốc độ cao nhất mà một chiếc xe có thể đạt được trên đường vào thời điểm đó.

*** Có thể nói từ những năm 60 70 đến nay những chiếc  xe Honda đã gần như hoàn thiện về mặt cấu trúc động cơ. Những phiên bản sau này hay những mẫu xe mới chủ yếu là cải thiện về thiết kế bên ngoài và những tính năng kỹ thuật hiện đại, còn sức mạnh động cơ hầu như đều dựa trên những cấu trúc động cơ ban đầu mà Honda đã hoàn thiện trước đó. Ông Soichiro Honda đã thật sự tạo nên một huyền thoại từ ước mơ của mình.

Phước An – Webike.vn

 

Tags:
Danh mục: TIN TỨC